Tiêu điểm
Ngày 27/8 tại Hà Nội, trong khuôn khổ Những ngày Hội đồng nhân dân thế giới tại Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và Hội đồng Nhân dân Thế giới phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tọa đàm quốc tế với chủ đề: “Vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới”.

Du lịch - cầu nối kinh tế và văn hóa Phát biểu tại tọa đàm, bà Yulia Petrova, Phó Tổng Thư ký Hội đồng Nhân dân thế giới, cho biết du lịch quốc tế không chỉ đóng góp cho phát triển kinh tế. Hội đồng Nhân dân thế giới đang nỗ lực thúc đẩy lĩnh vực này tại Nga cũng như các quốc gia đối tác nhằm tăng cường trao đổi, duy trì sự quan tâm đối với văn hóa, truyền thống, lịch sử và đặc biệt khơi gợi niềm yêu thích khám phá ở thế hệ trẻ. Thông qua những chuyến đi, gặp gỡ và trải nghiệm, người dân các nước có cơ hội hiểu hơn về lịch sử, văn hóa truyền thống và những giá trị chung. Vì vậy, phát triển du lịch bền vững còn góp phần củng cố tình hữu nghị, sự hiểu biết và hợp tác giữa nhân dân các quốc gia. Như vậy, du lịch đồng thời là động lực thúc đẩy kinh tế, văn hóa và giáo dục. Bà Tatyana Avgusmanova, Trưởng Ban Phát triển Bền vững của Hội đồng Nhân dân thế giới, giới thiệu một số xu hướng có thể mở ra dư địa hợp tác mới. Trong đó, du lịch công nghiệp được xem là lĩnh vực có nhiều tiềm năng. Các cơ sở sản xuất, những doanh nghiệp có lịch sử lâu đời, các nhà máy hiện đại... có thể trở thành điểm đến cho du khách, giới chuyên môn và doanh nhân quan tâm đến quá trình phát triển của từng ngành kinh tế. Du lịch khoa học và giáo dục cũng là một xu hướng mới. Phía Nga đang tích cực thúc đẩy các chuyến đi thực tập dành cho sinh viên, kết hợp trải nghiệm văn hóa và tích lũy kiến thức chuyên môn thông qua các chương trình trao đổi giáo dục.

Ngoài ra, bà Tatyana Avgusmanova đề cập du lịch ô tô, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phát triển nền tảng số, du lịch bền vững và có trách nhiệm… là những lĩnh vực có thể trao đổi kinh nghiệm giữa các bên. Phân tích tiềm năng hợp tác Việt - Nga, PGS.TS Phạm Hồng Long, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng hợp tác du lịch giữa hai bên còn nhiều dư địa, trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Du lịch tạo nguồn thu trực tiếp và có sức ảnh hưởng tới nông nghiệp, thương mại, tài chính, giao thông và nhiều ngành dịch vụ khác. Theo ông, thị trường khách Nga có nhiều tiềm năng đối với Việt Nam. Trong hơn 20 triệu lượt người Nga đi du lịch nước ngoài trong năm 2025, gần 700.000 lượt đến Việt Nam. Khách Nga thường lưu trú từ 10-15 ngày, ưu tiên các khu nghỉ dưỡng 4-5 sao và các tour trọn gói; Nga cũng nằm trong nhóm 8 quốc gia có mức chi tiêu du lịch lớn nhất thế giới. Còn Việt Nam có lợi thế về khí hậu nhiệt đới, chi phí phù hợp, văn hóa, ẩm thực và chính sách thị thực ngày càng thuận lợi để thu hút dòng khách này.

Tuy nhiên, PGS.TS Phạm Hồng Long cho rằng hợp tác du lịch hai nước vẫn còn một số điểm nghẽn, trong đó có kết nối hàng không, thanh toán, nguồn nhân lực chất lượng biết tiếng Nga và sức ép cạnh tranh từ các điểm đến khác trong khu vực. Ở chiều ngược lại, lượng khách Việt Nam đến Nga vẫn còn khá khiêm tốn, cho thấy cần có những chính sách và sản phẩm phù hợp hơn để thúc đẩy dòng khách hai chiều. Từ đó, ông đề xuất tăng cường kết nối hàng không, mở thêm các đường bay thẳng và duy trì các chuyến bay thuê chuyến (charter); thúc đẩy cơ chế thanh toán xuyên biên giới và thanh toán số Việt - Nga; phát triển các sản phẩm mới như du lịch y tế, y học cổ truyền; đồng thời đẩy mạnh xúc tiến trên nền tảng số thông qua các KOL, KOC và những người sáng tạo nội dung bằng tiếng Nga. Theo ông, hợp tác du lịch Việt - Nga mang “sứ mệnh kép”: vừa là cầu nối ngoại giao nhân dân, vừa là động lực thúc đẩy chuỗi kinh tế liên ngành. Nếu khai thác tốt tiềm lực chi tiêu của du khách Nga cùng năng lực cung ứng của Việt Nam, hai bên có thể hình thành một hệ sinh thái du lịch dịch vụ - văn hóa - xanh - số bền vững. Đào tạo những “đại sứ trên tuyến đầu” PGS.TS Bùi Thanh Thủy, Trưởng khoa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, cho rằng phát triển kinh tế du lịch trước hết phải được đặt trên nền tảng của sự thấu hiểu giữa con người với con người. Du lịch vì thế không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn là một kênh phát huy sức mạnh mềm văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và góp phần vun đắp tình hữu nghị, đặc biệt trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga.

Theo bà, Việt Nam có nhiều lợi thế về cảnh quan, văn hóa và di sản để thu hút du khách Nga. Khách Nga có thời gian lưu trú tương đối dài, cho thấy tiềm năng lớn để tăng cường giao lưu văn hóa và phát triển các sản phẩm du lịch có chiều sâu. Tuy nhiên, để biến lợi thế này thành hiệu quả bền vững, yếu tố then chốt vẫn là chất lượng nguồn nhân lực. Đội ngũ làm du lịch chính là những “đại sứ trên tuyến đầu”, trực tiếp tạo nên những điểm chạm văn hóa với du khách. Vì vậy, nhân lực du lịch cần được trang bị không chỉ kỹ năng nghiệp vụ quốc tế mà còn năng lực thấu cảm liên văn hóa và khả năng kể chuyện di sản. Qua đó hiểu được thị hiếu, tập quán, nhu cầu của du khách và truyền tải tốt hơn giá trị văn hóa của mỗi điểm đến. Bà Thủy đề xuất xây dựng mạng lưới đào tạo năng lực liên văn hóa giữa các cơ sở giáo dục, tăng cường giao lưu giảng viên, sinh viên và phát triển các chương trình thực tập quốc tế từ 3-6 tháng hoặc các mô hình liên kết đào tạo. Mục tiêu là tạo ra đội ngũ nhân lực không chỉ làm tốt nghiệp vụ du lịch mà còn có khả năng trở thành những “đại sứ văn hóa”, góp phần thúc đẩy giao lưu nhân dân và hợp tác bền vững giữa các quốc gia. Đồng quan điểm, bà Tatyana Avgusmanova cho rằng tăng trưởng kinh tế thông qua du lịch gắn trực tiếp với đào tạo nhân sự và phổ biến tiếng Nga. Để đáp ứng nhu cầu này, phía Nga đã xây dựng chương trình tiếng Nga cơ bản dành cho nhiều nhóm nhân sự trong ngành du lịch, từ nhân viên lưu trú, quản lý khách sạn, phục vụ bàn, đầu bếp đến hướng dẫn viên. Từ thực tế đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành, Tiến sĩ Ngô Trung Hà, giảng viên ngành Du lịch - Khách sạn, Cao đẳng Quốc tế Pegasus, chỉ ra khoảng cách giữa tốc độ tăng của thị trường khách Nga với khả năng đáp ứng về nhân lực tiếng Nga. Theo số liệu tại tọa đàm cho thấy trong 7 tháng đầu năm 2024, Việt Nam đón 863.500 lượt khách Nga, trong khi cả nước chỉ có 462 hướng dẫn viên nói tiếng Nga được cấp thẻ. Nhân lực tại các cơ sở lưu trú, nhà hàng cũng chủ yếu sử dụng tiếng Anh, năng lực tiếng Nga còn hạn chế.

Theo ông, cần nhìn nhận tiếng Nga không chỉ như một công cụ giao tiếp mà như một phương tiện giúp vượt qua khác biệt văn hóa và nâng cao chất lượng phục vụ. Một trong những phương pháp được đề xuất là dạy ngoại ngữ thông qua nhiệm vụ thực tế, đặt sinh viên vào những tình huống như xử lý phản hồi của khách, thiết kế hành trình di sản; với người đang làm việc có thể sử dụng các nhiệm vụ ngắn ngay trong quá trình phục vụ, chẳng hạn giới thiệu món ăn hoặc hướng dẫn khách sử dụng tiện ích bằng tiếng Nga. Để nâng cao chất lượng đào tạo, Tiến sĩ Ngô Trung Hà đề xuất tăng cường hợp tác với các cơ sở giáo dục của Nga nhằm chuẩn hóa ngoại ngữ chuyên ngành, xây dựng học liệu về di sản văn hóa, phát triển môi trường giáo dục tiếng Nga số và ứng dụng nền tảng E-learning, hệ thống quản lý học tập trong đào tạo tiếng Nga du lịch. Mục tiêu là giúp nhân lực du lịch thực hiện tốt nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy giao lưu nhân dân Việt - Nga.
Nguồn thông tin: https://thoidai.com.vn/ket-noi-du-lich-viet-nga-chu-trong-van-hoa-va-dao-tao-nguon-nhan-luc-756968.html